Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Ánh mắt thời phân-ly.

Cuộc di cư vào năm 1954 của 1 triệu đồng bào miền Bắc chạy trốn CS vào Nam.
Ảnh tượng trưng .
Hãy nhìn những đôi mắt của người đi ,kẻ ở.

Năm 1970 ông Lon-Nol lên cầm-quyền nước Campuchea sau một cuộc đảo chánh thành-công.

" Bài Việt",là chiêu-bài nóng bỏng để ông và hệ-thống cầm-quyền của nước Miên đưa ra nhằm kích-động những người Khmer quá-khích ra tay cướp đoạt tài-sản của-cải cùng lúc tàn-sát người Việt sinh-sống từ lâu đời ở đất nước nầy.
 Con số những người Việt bất hạnh bị giết chết bằng nhiều cách khác nhau không ai biết chính-xác là bao nhiêu.
Lúc bấy giờ ,tuần báo "Diều-Hâu" ở Saigon chạy  một bản tin với ảnh cho thấy cả một khúc sông Mekong và mặt hồ Tonlé- Sáp thuộc Miên đã che phủ những xác của người Việt tha-hương lâm vào tình-cảnh xấu số.
 Quân đoàn 3,dưới quyền tư-lệnh của Trung-tướng Đỗ-cao-Trí đã có một cuộc hành-quân vượt biên giới Việt-Miên để truy lùng ,tiêu-diệt cục R,tức đầu não của nhóm phiến loạn con đẻ của Hà-Nội dưới danh xưng là "Mặt-trân dân-tộc giải-phóng miền Nam Việt-Nam"(MTDTGPMN/VN).
 Cùng lúc ấy,Hải-quân VNCH cũng đã có mặt ở Neak-Luong để chở những nạn-kiều còn sống-sót   về lại quê nhà.
 Bằng đường bộ,tôi cũng có mặt trong đoàn quân viễn-chinh ấy,bằng  biên-giới Gò-Dầu ,Tây-Ninh .
Khi vào sâu nội địa của Campuchia qua Chi-Phou rồi dừng lại ở Svay-Rieng,nơi có một trục lộ huyết-mạch của xứ chùa Tháp.
 Trở lại cuộc tàn-sát người Việt có chủ-tâm của chính-quyền Lon-Nol.
 Đó là một cuộc giựt giây cho những thanh-niên,sinh-viên người Miên bằng các phương-tiện truyền-thông như báo-chí,như truyền-thanh và truyền hình.
 Họ kể đủ mọi thứ tội ác tưởng-tượng để gán ép cho những người chỉ có một tội lớn ,là hơn họ ...siêng-năng,cần-cù làm lụng.
 Bằng nhiều cách độc-ác nhất,những người Miên đã dùng cuốc,xẻng,chày vồ,dây thừng ...đồng-thời  tập-trung những người Việt  vào các sân vận-động,sân trường học rổi tung lựu-đạn vào đám người bị trói chặt ấy.
 Thống-kê của chánh-phủ VNCH cho biết,sau cuộc thảm-sát kinh-hoàng đó, có khoảng từ một đến hai trăm ngàn Việt-Kiều trên đất Miên đã bỏ của ,bỏ cả người thân bằng nhiều cách hồi hương về quê cha,đất tổ.
 Nét kinh-hoàng của một số người sống-sót đó khi gặp được những người lính VN cũng hãy còn hằn rỏ nét.
Họ kể những hoảng sợ mà họ trải qua tưởng như không bao giờ dứt được.
Những cái nắm tay,ôm vai vào những người lính VNCH của họ làm tôi có ý-nghĩ rằng họ chẳng muốn một phút nào rời ra.
Thường khi, tôi vẫn bắt gặp những đôi mắt của người bản xứ mà tròng trắng mắt của họ đã ngả màu đỏ máu của những người bị giết vừa qua.
 Là một nhân-viên công-lực của quân-đội,nhiệm-vụ của tôi điều-hòa và kiểm-soát lưu-thông với những đoàn quân-xa di-chuyền ngày,đêm  xuôi ngược.
Nút chặn được đặt ngay con đường chính của tỉnh lỵ Svay-Riêng,ngay góc có khách-sạn Bungalow và công-viên chính của thành-phố  đang được mùa Phượng nở  đỏ đầy rực.
 Từ lúc sáng , nơi nút chặn đặt trạm kiểm soát về  phía trái,cạnh thân me tôi đã thấy một thiếu-phụ trên tay bồng một trẻ mà theo tiếng khóc ,chắc là còn non ngày tháng lắm.
  Kế bên ,phía dưới có một đứa trẻ đi tới lui ,lúc ôm,lúc dựa dẫm vào mẹ nó.
 Người đàn bà ăn vận theo lối phụ-nữ Miên ,giữ một khoản cách không quá gần với tôi nhưng vẫn liên-tục hướng mắt về phía tôi.
Theo kinh-nghiệm nghề-nghiệp,bản thân tôi vẫn phải dè-chừng ,vì ở nơi đây,chưa thể phân-biệt được bạn và thù  .
 Cỡ khoảng hai tiếng đồng-hồ ,sau cùng người đàn bà cùng hai đứa trẻ thơ đó cũng đã bước đến kế bên tôi với câu hỏi mở đầu bằng tiếng Việt lờ-lợ âm Khmer :
"Ông phải là người Việt-Nam hôn?"
Chưa kịp trả lời,ngay lúc ấy,tôi thấy có một người đàn ông đã di-chuyển đến vị-trí mà phụ nữ vừa rời đi.
 Tôi trả lời là phải,tôi là người Việt.
Sau đó ,người đàn bà hỏi rất nhanh rằng tôi có thể "Cho" chị về VN được hay không vì chị đã bị chết hụt cách nay không lâu,cho nên bằng mọi cách mới đến được nơi tôi đang đứng đây.
Tôi cũng cho chị biết,theo sự hướng dẫn của quân đoàn thì chị phải tìm cách đến bến phà Neak-Luong ,để từ đó chị và hai đứa trẻ sẽ được đi tầu của Hải-quân VNCH đưa về căn-cứ Đồng-Tâm ở VN.
Nét hoảng-sợ của chị hiện hẳn lên khuôn mặt và chính tôi,tôi cũng biết rằng từ Svay-Riêng đến gặp được tầu  hải-quân làm sao mà với hai đứa trẻ và một người đàn bà tay yếu,chân mềm đang trong lúc đào tẩu thân-sơ,thất sở kia có thể sống còn để tới được.
 Bằng một quyết-định trong chớp mắt tôi nói chị đứng tại đây đi,nơi chổ nầy,tôi sẽ gởi chị về Việt-Nam bằng đường bộ.
 Bằng dấu hiệu của chị,người đàn ông có nước da đen sậm đứng ở gốc me đằng kia bước thật nhanh đến với chị và nhìn tôi với ánh mắt sợ hãi lẫn e-dè.
 Tôi hỏi chị người đàn ông với  màu da đen sậm kia là ai,có phải người thân của chị và ông ấy có muốn về nước với chị hôn,chị nói đó là chồng của chị nhưng anh ấy không chịu đi.
 Tôi cố thuyết-phục rằng cùng đi với nhau cho có đủ vợ chồng với con cái.
   Chị trả lời là không được.Tôi không cố thuyết phục chị nữa,tôi nghĩ chắc chị với chồng có nổi khổ riêng mà không tiện nói.
 Lúc bấy giờ tôi mới có đủ khoản cách để nhìn tận-tường người đàn ông Miên kia .Tôi thầm nghĩ chắc là anh ta đã bằng mọi cách,qua bao nhiêu gian-truân mới giữ được mạng sống của người vợ với hai con đến địa-điểm an-toàn nầy.
 Tôi gật đầu chào anh ta với cái nhìn thật thân-thiện  cố ý để mong anh ta hiểu được rằng mọi việc đã tốt đẹp,bình-an và chắc-chắn rằng sẽ không có một cuộc tầm-thù,báo-oán nào khác nữa xảy ra cho vợ con của anh ngay trong lúc nầy,ở đây.
 Họ có một lúc để thì-thầm to nhỏ bên nhau cùng với thằng bé hết nắm lấy tay cha rồi sang qua ôm mẹ,trong khi chờ đợi tôi chận lai một chiếc quân xa.
Tôi chắc-chắn không thể lầm, khi quả-quyết rằng,trong đời của tôi chưa bao giờ tôi đã bắt gặp một ánh mắt u-buồn,sâu-thẫm của người chồng Khmer có vợ người Việt đến như vậy.
Trong con mắt sâu thẫm chung quanh là những quần đen ấy,tôi đã thấy không biết là bao đêm mà anh ta đã mất ngủ vì sự sống còn ,vì chia ly và vì những quan san cách trở mà khi xa nhau rồi,không làm sao mong được cái ngày đoàn tụ.
 Cũng trong ánh mắt ấy tôi đã thấy không biết bao nhiêu lời nói anh ấy muốn nói ra,muốn bộc-bạch tâm-tình giữa anh và người bạn đời dị-chủng đã trải qua từ lúc khởi đầu cho đến khi phải ngày đêm tìm phương ,tính kế để vợ hiền,con dại của mình thoát khỏi vòng sinh sát bởi chính đồng bào,đồng loại của mình.
 Trong những tia mắt trao đổi qua nhau trong dăm ba phút giữa tôi với anh ta,của anh ta với người người vợ đang sắp bước lên trên đường bôn đào cùng hai đứa trẻ,tôi không thể ghi nhận có biết là bao những lời nói thầm mà anh ta không nói ra thành tiếng được.
 Buồn.
 Sâu thật sâu thẫm và tôi tin chắc rằng những giòng chữ nầy của tôi chỉ diễn đạt chưa được phân nửa của ánh mắt đau buồn nơi người chồng ,trong giây phút chia tay với vợ con mà đành cam chịu nỗi bất lực trước hoàn cảnh phân ly ,không làm sao biết có bao giờ còn cơ may tái ngộ.
 Dù chỉ ánh mắt trong năm mười phút ngắn-ngùi ấy nhưng cho đến giờ,hơn bốn mươi lăm năm qua,"nó" vẫn còn vướng-vấp tiềm ẩn trong tôi ,khi vợ con anh đã lên được chiếc GMC hướng về biên giới Gò-Dầu.
 Nước mắt long-lanh dường như bị cố ngăn cho không chảy.Nhưng tự ánh-mắt đó,tôi nghĩ nó đã chất chứa không biết bao nhiêu ngàn giọt sẽ tuôn ra khi chiếc xe nhà binh kia chạy đến cuối đường,khuất ở khúc-quanh.
Phạm-huỳnh-Ngân.





Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2016

"Quê hương anh là...."

Một gia đình chạy...chết khi có tin những “giải phóng quân “ tới để tháo gỡ kìm kẹp cho họ !
 Có câu hỏi mà Việt Cộng không bao giờ trả lời được là :-“Tại sao người dân ở vùng lửa đạn luôn luôn chạy về phía quân đội VNCH mà không ở lại để chào đón những người đến giải phóng cho họ ?
(Ảnh tượng trưng.).
"Con đường buồn-hiu" là tựa bài hát của Nhật-Ngân và Song-An.

Bản nhạc nầy được phổ từ bài thơ "Quê-hương  điêu-tàn" của Nguyễn-đức-Quan.
"Quê-hương anh là Quảng-Trị,
"Nhà của anh ở bên bờ sông Thạch-Hãn,
"Ngày xưa đó anh học trường Nguyễn-Hoàng,
"Ngày hai buổi đi,về đường Gia-Long......"
Lần đầu tiên tôi nghe được bản nhạc ấy qua giọng ca của Elvis-Phương  trong một khu gia-binh ngoài An-Thới,Phú-Quốc.
Khi những vần thơ ấy, được phổ-nhạc rồi qua những giai-đoạn tập  dượt,hòa-âm , thu vào băng nhựa phát-hành .rồi không biết  bao lâu nữa nó mới từ đất liền ra tới hải-đảo.
 Thời gian ấy tôi không được biết.
 Một điều rất rỏ , tôi còn nhớ được là lúc bấy giờ tỉnh-lỵ địa đầu giới-tuyến thuộc cực Bắc của Việt-Nam Cộng-Hòa đã lọt vào tay Bắc-quân xâm-lược và đó là thời-gian  ba bên,bốn phía trong cuộc chiến thu-xếp để trao-trả tù-binh.
  Từ mấy  câu hát mở đầu của bản nhạc,tôi đã bị chinh-phục và ngay lập tức phải lắng nghe ,rồi đồng-cảm  với cái tỉnh khô cằn ,bất hạnh  đã gồng mình hứng trọn đầy mìn với bom đạn  ; chính ngay nơi chốn phố-thị ấy, giờ đã tan-hoang vì hàng ngàn khí cụ,hàng trăm tấn  đạn pháo cùng với năm bảy trăm chiến xa  xoay chuyển nghiền nát những con đường phải nằm yên chịu đựng tựa như hàng triệu đôi mắt của những bà mẹ Việt Nam,dù đớn đau,dù mất mát,dù khổ ải cũng phải vẫn đành lòng cam chịu.
 Bài thơ,tự nó như một lời kể rất thực,rất bình-dị như ngay cả lúc tác-giả đi lại nhiều lần qua con phố "Buồn-Hiu" và theo tôi đoán , người cựu học -sinh trường Nguyễn-Hoàng nầy đã cùng tản-bộ nhiều lần  với người yêu trong những ánh sáng ban mai,những buổi  chiều tà , trước lúc vào trường ,sau giờ tan học.
 Chắc hẵn  "Con phố Buồn-Hiu" vào  thời gian ấy với hai đôi chân song nhịp,tay ôm chiếc cặp,vai sánh cùng nhau trên một đoạn đường với ánh mắt hãy còn chan chưa nhiều ước vọng tương-lai  sau khi rời khỏi mái trường đã không phải là con phố buồn .
 Chính ngay  những lúc  với đôi tình-nhân trong tuổi học-trò ấy,có khi ...Con phố Buồn-Hiu , lại là một đoạn đường lý-tưởng cho những đôi uyên-ương rất cần tĩnh-lặng .
 Cho đến khi ,qua phần giữa của bài ca,cả hai phía nhà thơ và nhạc-sĩ , làm cho người đọc,người nghe mới thấm...đòn buồn về con phố đã trở thành một vết-tích vụn-vỡ không còn tồn-tại  vì hàng chục triệu tấn chất nổ,trong cái thành phố của tỉnh lỵ, mà dấu vết của đạn thù nhiều hơn gạch sỏi !

 Tất cả đã trở thành kỹ-niệm đau và buồn,thương với tiếc.
 Phố thị đã mất,dấu xưa tích cũ đã nhạt mờ.
 Người yêu cũ cũng không làm sao biết được qua cuộc kinh-hoàng ấy , cũng  không  thể  biết được  đã mất hay còn và  nếu như vẫn còn sống xót,sau những trận pháo long trời lở đất ấy , nàng  đã  trôi dạt theo dòng người chạy nạn về đâu ?
   Nếu như chẵng may đã  mất, có  biết là  đâu ,ở nơi chốn nào với một nấm mộ chôn vội bên đường hay ven đồi hoặc dưới lòng một con sông,bờ suối ?
 Những câu hỏi sẽ chẵng bao giờ có câu giải đáp vào thời chinh chiến !
 Tôi chưa được biết Quảng-Trị.
 Tôi chỉ thấy hướng Bắc con sông Mỹ-Chánh đứng từ phía Nam.
 Nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến  đồng-bào tôi,nạn nhân trực-tiếp của cuộc-chiến do miền Bắc Việt-Nam khởi-động đang hứng-chịu những hậu-quả khốc-liệt nhất.
Có những bà mẹ bế  đứa con thơ đã chết tự lúc nào vừa gào than,vừa khóc đến thất thanh,đến lạc giọng  mà đôi khóe đã cạn khô nước  mắt, chỉ còn là  vệt  dấu  khô.
Tôi đã gặp nhiều chiến-binh đi chân không,đi đứng xiêu vẹo với những đôi mắt lạc-thần sau những ngày đêm dài ghìm súng trước quân  thù.
 Tôi đã thấy những phương-tiện chuyên-chở mọi thứ đồ-đạc được chất,được nhét từ con chó đến con gà rồi nồi,niêu soong chảo... đầy đến nỗi không còn một nơi nhỏ nào nữa để nhồi-nhét được !
Chỉ chừng đó thôi,tự trong tôi đã cảm nhận sự đau-đớn khổ sở,mất mát của hàng triệu người trong cuộc chạy giặc trắng tay mà chưa biết tương-lai sẽ về đâu.
Chiến-tranh,vượt qua  mức-độ tàn-phá ,vượt ngoài tưởng-tượng của loài người .
Không phải chỉ riêng Quảng-Trị mà còn,còn rất nhiều địa danh khác ,chỉ cần nghe đến tên thôi, mới thấy được mức-độ chịu đựng vượt quá phi thường của những chiến-binh cùng những nạn-nhân chiến-cuộc đã nằm trong vòng lửa-đạn.
 An-Lộc là một dẫn chứng.
Và An-Lộc ,Bình-Long có thể nói không sai là,không có một nơi nào ở trong thị-xã nầy mà không bị dấu đạn của Bắc-quân nã vào hai hoặc ba lần (ngoại-trừ tượng đức mẹ  Maria) !
Trong mỗi một người,hầu như ai-ai cũng đều có một hay nhiều nơi chốn để nhớ ,để nhắc.
 Vào thời kỳ sau cuộc di-cư  vĩ đại của một triệu đồng-bào miền Bắc vào Nam ,người dân ở những nơi có đồng-bào miền Bắc cư-ngụ đã được nghe, được đọc biết bao là điều hay ho,xa lạ từ Hà-Nội,từ Lạng-Sơn,từ Nam-Định, Thanh-Hóa đem vào.
 Mỗi một vùng đất,mỗi một địa-danh cho đến lúc đó đã chứa đựng biết là bao công sức của tiền-nhân đã dây công khai-phá giữ-gìn.
 Cho dù "nó" ở điểm tận cùng của đất nước như Mũi Cà-Mau chẳng hạn.
"Nó",như một địa-danh linh-thiêng đã có từ-thủa xa xưa như ải Nam-Quan ,qua bài học từ lịch-sử ,hầu hết trong chúng ta đây ai cũng còn nhớ về  những lời dạy con để-đời của Nguyễn-phi-Khanh  cho Nguyễn-Trãi , như thế nào gọi là thù nhà,gọi là nợ nước !
 Và,mấy trăm năm sau,chúng ta cũng được biết,địa-điễm năm xưa người cha lẫy-lừng ấy dù  bị  gông cùm đã hiên-ngang giáo-huấn người con,nay thì  đã nằm gọn vào lãnh-thổ của người Tầu !
 Những làng, phố nổi tiếng trong văn chương của dân-tộc cũng dần mất vào tay ngoại nhân :
"Đồng-Đăng có phố Kỳ-Lừa..
 "Có nàng Tô-Thị...."
 Cả xã Cao-Lộc,thuộc Lạng-Sơn nay cũng  đã bị xóa tên ra khỏi bản đồ  Việt Nam .

 Nơi chốn địa đầu của đất nước ấy,nay đã là một nơi chốn nhỏ thuộc về nước Tầu lạ hoắc sau cuộc xâm lược đẫm máu của Trung Cộng.
"Quê-hương anh là..."
Trong chúng ta có thể dùng bất cứ địa-danh nào của đất nước mình đã chào-đời,đã được hít-thở,được uống những giọt nước từ sông Hồng,sông Hương,sông Cửu để  nên dáng nên hình  để nói là  quê-hương của tôi.

 Cho dù đó là một ấp nhỏ xa-xôi hẽo-lánh,một nhánh sông đầy những Ô-rô,Bần,Mắm hoặc những phố-thị tràn ngập hàng triệu   ánh đèn...
 Quê hương "anh" có Con-Phố Buồn-Hiu dẫn đến bờ sông Thạch-Hãn hay quốc-lộ máu 13 Bình-Long An-Lộc, hoặc đại lộ Kinh-Hoàng Quảng-trị Thừa-Thiên chỉ đúng-nghĩa khi nào nó còn thuộc-quyền xử-dụng,thuộc-quyền cai-quản của chính dân-tộc chúng ta.
Nếu như "nó" bị một đất nước khác,một giống người khác cai-quản quyết-định mọi sự sống còn của chúng ta,thì danh xưng quê hương anh(hay chị hoặc tôi) sẽ không còn đúng nghĩa nữa.
Nó sẽ không chỉ là "con phố buồn-hiu" như quý ông Nguyễn-đức-Quan,Nhật-Ngân -Song-An mô tả nữa mà là "Đất Mẹ mất(tiêu) rồi" !
Phạm-huỳnh-Ngân




Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

SỢ-OÁN-QUÊN và SỢ !

Đồng bào  Huế chôn cất thân nhân của mình.
Vụ thảm-sát vào dịp tết Mậu-Thân 1968 với hơn bảy ngàn người dân bị giết chết ở cố-đô Huế ,người dân nơi đây đã chưa kịp hoàn hồn qua sợ hãi, đau -đớn ,mất mát của những chứng nhân cùng thân nhân của những người còn sống-sót.
 Bằng cuộc tàn-sát có hoạch định một cách quy-mô nầy, người Cộng-Sanh đã dùng những dụng-cụ thô-sơ nhất như cuốc xẻng,mã-tấu,lưỡi-lê,chày vồ kể cả những sợi kẽm gai để gây ra đau đớn nhất để giết hại chính những người đồng bào của mình .
 Tiếp đến,bốn năm sau lại sảy ra trận chiến Mùa Hè đỏ-lửa với hàng ngàn xác người dân Quảng-Trị bị pháo binh của quân-đội Bắc Việt vừa nã theo , vừa bắn trực xạ  trong lúc họ cố chạy sống chạy chết  để     cùng  theo kịp những bước rút lui của Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
 Quốc-lộ 1,còn có tên khác nữa là Đại-lộ Kinh-hoàng, theo ngôn-ngữ của nhà văn Phan-Nhật-Nam.
 Đó là một trong những lý do chính,cho nên trong cuộc di-tản của Quân-khu 1 xuôi Nam  đồng-bào  ở vùng 1 chiến-thuật lại cố trốn chết  bám theo các đơn-vị quân đội VNCH thêm một lần gian-nữa.
 Cũng chỉ vì họ quá sợ hãi  CS và muốn được sống ở vùng dất tự-do.
 Miền Nam ,phòng tuyến cuối cùng của những người yêu chuộng thể chế dân-chủ cũng bị vỡ.
 Cả hơn mười bảy triệu người trong không bao lâu  đã bị một tấm màn sát đen đúa chụp xuống.

 Sợ.
Phe chiến-thắng áp-đặt những luật-lệ rừng rú,vô lý của họ vào đầu,vào cổ của dân quân thuộc phe thua cuộc. và trong rất nhiều điều,nó tương-phản,vô-lý,ngang-ngược hoàn-toàn với mà họ đã được hưỡng được hơn ba mươi năm.
Họ bị bắt phải nghe những điều trái với luân lý của con người.
Họ phải thành những con vẹt .
Họ phải thi-hành những mệnh lệnh và không được hỏi, không được cưỡng lại.
Họ bị chiếm đoạt tài sản bằng nhiều cách .
Họ bị dồn đến đường cùng của cuộc sống họ phải bị cưỡng bách đến những khu gọi là "kinh-tế mới",thực- tế chỉ là những nơi chốn lưu-đày, rồi cuối-cùng là những mái gia-đình sống lang-thang vất vưỡng ở những  đầu đường ,xó chợ !
 Trong khi ấy,nhà cửa ,tiện-nghi đã có từ thời ông,bà cha-mẹ ,kể cả bản -thân của họ nữa đã dầy công tạo-đựng đã nghiễm-nhiên lọt vào tay của đám người ngoác to mồm xưng là "cách-mạng" !
 Oán.
Năm 1954 đã có một triệu đồng -bào người Việt,miền Bắc di-cư vào Nam. Anh trên là cảnh người đi,kẻ ở trong cuộc di-cư vĩ-đại nhất của đất nước vào thời ây.

Không ít số người có thân-nhân , kể cả cá-nhân  họ bị những đau đớn,khổ-sở do kẻ thù thâm-căn ,cố-cốt  là Việt-Cộng,tức là đoàn quân xâm lược trước đây không  bao lâu,đã  gây ra ,  có một số đông đã chạy thục-mạng,chạy bán-sống bán chết với muôn-vàn khổ-ải nay đã đến được bến-bờ tự-do .
 Họ ,một số rất đông trong thời-gian đầu làm thân tị-nạn đã ôm những hoài-bảo lớn-lao với ước-mong cho đất nước được có  một ngày tươi-đẹp,tự-do,tươi-sáng cho thân-nhân,cho bằng-hữu của họ và để khi ấy, đất nước VN không còn mấy cái nón cối,ba đôi dép râu cai-trị nữa.
 Một người mang căn-cước tị-nạn,trung-bình phải làm việc gấp rưởi hoăc gấp đôi so với một người dân ở bản xứ ấy.
 Nôm na ,là "Một kiễng,hai quê !".
 Phải tìm sự sống cho mình và cấp-cứu thân-nhân đang đói,đang khổ ở quên nhà.
Quên.


"Lá cờ,là cờ của Ta !"

Đây cũng là lý-do mà sau mấy chục năm người Việt chống Cộng ngày càng thưa hơn.
Ngoài ra còn rất nhiều lý-do khác làm cho những hận-thù,oán ghét chế-độ cầm-quyền ngày càng giãm hẵn đi.
 Cùng lúc ấy,với sự chiêu-dụ cùng với nhiều...cò mồi cỡ bự như Nguyễn-cao-Kỳ,Phạm-Duy,Thích-nhất-Hạnh ,những người "cựu tị-nan" năm xưa lúc bước chân xuống ghe  vượt-biên đã ôm mộng là Kinh-Kha lúc trước,nay  thì áo-gấm về làng với sự tuyên-truyền bịp-bợm của  CS ,đã nhận ra rằng mình không kình-địch dài lâu với đảng CS được,nên gió cũng đổi chiều.
 Trong lúc ấy,bạo-quyền Hà-Nội cũng hết công-xuất qua các phương tiện tuyên-truyền rằng là đất nước đang đổi mới,tự-do hơn,dân chủ  nhiều hơn thời chiến gấp ...chục lần....!
 Họ chiêu-dụ,mời chào những người tị-nạn năm xưa quay về xây dựng đất nước với nhiều lợi-nhuận,bổng-lộc hấp-dẫn.

 Họ "gõ" trúng ngay lòng tham cố-hữu vốn có trong nhiều người.
 Với những lời đường mật  đó  nhiều cựu thuyền-nhân,cựu bộ nhân lâu ngày xa-xứ đã bị lung-lạc thật sự.
 Họ bắt đầu tránh né những cuộc xuống đường vào những ngày quốc-hận.
 Họ tránh những ống kính khi có nhỡ bước qua mấy lá cờ vàng,họ tránh dùng những lời lẻ nặng khi nói về ..."mấy ổng (!!)".
 Họ tạo-dựng gia đình cho có bề,có thế với nhà cao,cửa rộng ở quốc-gia đệ-tam.
 Và,cũng khá đông trong số những người di-tản...buồn năm xưa ấy nay đã dư của ăn ,của để đã hăng-hái trở về quê cũ theo lời kêu gọi thống-thiết "khúc ruột ngàn dăm" do những kẻ mới ngày nào đây đã hành hạ,đã nhuc mạ họ đủ-điều, đến không chịu được nên phải tìm phương trốn chạy .
Và Sợ !
"Có về nước chưa ?" hay ông hay bà "về nước mấy lần rồi ?".
Đây là câu hỏi khá phổ-biến trong cộng-đồng người Việt cho dù bất cứ nơi nào trên thế-giới.
 Thỉnh-thoảng chúng ta đã được biết qua tin-tức có người về VN đôi ba ngày rồi bị bắt,có người vừa đặt chần đến Tân-sơn-Nhất hay Nội-Bài là bị áp-giải hay trục xuất lập tức ra khỏi "quê nhà" !
 Đây chính là phương-thức khủng-bố rất hiệu-quả cho những ai ở hải-ngoại chống đối lại họ :
Hãy chọn một trong hai ,chống đối lại chế-độ là ...cụt đường về !
 Chớ có "nghe lời bọn xấu" chống đối lại đảng,nhà nước và nhân-dân !
Cũng cùng lúc ấy,trong nội-địa,bất cứ ai chỉ cần có dăm ba lời chỉ-trích cho dù là xây-dựng vẫn bị tròng vào đầu những bản án tù-tội khắc-nghiệt dài lâu.
Đây là tâm-lý tạo ra sợ hãi dây chuyền và lâu dài .
Đa-số trong giới đi đi,về về VN  hiện tại đều ít nhiều có giây mơ,rể má với công ăn việc làm,với thân bằng ,quyến thuộc kể cả với những người yêu...bé bỏng nữa.
 Muốn được yên thân ?
 Muốn được về VN  ăn chơi ,hưỡng-thụ thoãi-mái với chiêu-bài VN ...cái gì cũng có ?
Hãy làm thinh và chớ có nên ..chạm đến đảng và nhà nước !
Nghe được lệnh ấy,tất-nhiên đã biết sợ.
 SỢ đã làm kim chỉ nam,là câu nằm lòng cho bất cứ ai còn bị vòng kềm-tỏa của chế-độ cầm-quyền !
   Dặn-dò :
Từ  trung tâm với tên gọi là "Bùng-binh Bến-Thành",ngay dưới chân tượng danh nhân Trần-Nguyên-Hãn ,ít ra cũng có bảy con đường lưu-thông để đến :Thủ-thiêm,Chợ lớn,Bến Bạch-Đằng,Thị-Nghè...
Bình-tĩnh hay hốt-hoảng rồi lở mà có đi lạc hoặc đi lòng vòng trở về lối cũ là quyền của tài-xế hay khách bộ-hành !
Tầm Nã.


Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Cám-ơn Trời,anh còn bộ óc.

Mới chỉ sau một ngày,
Ngày mà máu cạn,da thay.
Cho đến hôm nay,châu thân anh còn lại những thịt xương ruột rốn bầy nhầy...
 Trên cao nhất,
 Hú-hồn !
Anh còn bộ óc !
Cho nên thân-thể nầy dù kinh-qua những trận đòn thù của phe được cuộc áp đặt đọa-đày, cho đến  hàng ngàn lần rủa nguyền,mắng nhiếc , qua rồi nhiều những nuốt oán ,nhai thù  sau cuộc bể dâu; mà kẻ "chiến-thắng"  có biệt tài biến có thành không,nói không là có !
 Anh vẫn hiển-nhiên lừng lững như con nước xuôi giòng.
 Tim óc đó chợt trở  thành "kim-cương bất-hoại".
Bất-khiển-dụng câu xưa nay có thật,
Anh,
Dù người đã bị biến thành loài vật anh-linh,
Em yêu ơi,giặc muốn hết thẫy chúng mình,
Thành gia-súc,gia cầm hầu cai trị.
(Đạt nhiều rồi,cho đến buổi hôm nay.)
Dẫu qua đi mấy ngàn đêm cọng với mấy ngàn ngày,dăm chục triệu bộ óc vẫn tháng ngày đề-kháng.
 Nếu không bằng vũ khí sát thương...
 Đại đa số những con người yêu tự do -dân chủ ,

  Vẫn chiến đấu,dù không trên chiến trường bom đạn.
  Dùng ác gian của giặc thù luyện thành vũ khí,
  Lấy đường ngay soi rọi thấu lũ ngụy tà.
Nó là đây.
Có mặt khắp nẻo đường,không chiến tuyến,không hào sâu,không lổ châu mai và bẫy-sập...
Không đâu nhen,không phải  chỉ mình anh trên quãng đường dài đơn-độc:
Nói cho em mừng,
Cùng có triệu-triệu người dù da đã nhăn nhúm vì thay thế đổi thời ; máu nóng căm thù tuôn giòng cuồn cuộn như sông Tiền,sông Hậu đang mùa mưa lũ và, tim óc thì vẫn phừng-phừng tinh tấn như  vừa khởi cuộc chơi .
Với giặc, đây là cú đòn gậy đập lưng ông tận tình trí mạng.
"Nước nâng thuyền,nước cũng nhận chìm thuyền ",
Dân là nước,vốn trường-tồn miên viễn ,
Giặc chỉ  là thuyền,
Vào lúc đoản-kỳ,
Trong tiến-trình triệu ngàn năm trái đất.
 Chi nên,
 Dù nhọc sức,
 Cố hô to là ta thắng cuộc !
Guồng máy cầm-quyền tam-tứ phương, che đỡ hụt hơi.
 Thù hận khắp nơi,
 Hờn-oán đầy trời.
Tích-lũy cho cao triệu điều hung ác , bắt bớ tra khảo những ai ra lời chống  giặcTầu xâm lược ,ra tay cướp đất,buôn người, gây nên  xã hội điêu linh ngất  cao đầy tội-ác.
Giặc thù ơi !
Sẽ tới lúc sụp nhào,
Bao uất-ức hận thù, rồi sẽ phút chốc trở thành sức mạnh của Phù Đỗng sẽ dẫm đạp nhào lũ   ác tặc tính thú  mặt người  !
 Em yêu,
Anh cám-ơn hết thảy những đấng linh-thiêng.
Cho anh giữ (lại được) một phần người quan-trọng,
Quan-trọng vô-cùng như đất nước thân-yêu.
Óc của anh và những giòng nầy,
Anh không đạt,
Thì sẽ nhiều người được.
Trong cuộc chơi, phần thắng bại chưa xong.
Tháng Tư,hai mươi tám,năm thứ bốn mươi mốt mất nước.
Tầm-Nã.
Khóc thương một người hay cho mệnh nước ?(Thương-tiếc của nhiếp ảnh gia Nguyễn-Ngọc-Hạnh).
 



Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

Chảo dầu An-Thới !?.

 Thuộc về hướng  nam của đảo Phú-Quốc ,cực nam là xã An-Thới rất  thịnh-vượng với những hãng chế-tạo nước mắm , các cửa hàng buôn sỉ,bán lẻ những mặt hàng từ đất liền chở ra hay  hải-sản của địa phương được chuẩn bị mang về nôi- địa  , cùng với các nhà sản-xuất khô cá-thiều và nhiều loại khô khác, đã được nhiều nơi trong nước khen ngợi ,ưa thích.
 Có lúc,khu chợ nhỏ của xã nầy gần như quá tãi vì rất nhiều lực-lượng của quân-đội đồn-trú để tiếp-vận, yểm-trợ cho trại-giam tù-binh nằm cách đó không xa.

 Một phi trường quân-sự với phi-cơ thám-sát cùng những  vận tải cơ  tiếp-liệu,thực-phẩm cho  các đơn-vị đồn-trú cũng như những vật-dụng ,rau cải cho tù-binh thường ngày.
 Một căn-cứ hải-quân  để bảo-vệ lãnh-hải cùng  yểm trợ trại-giam,khi cần.
 Một tiểu-đoàn Địa phương quân đã nhận phần an-ninh diện địa phía bắc cùng vòng đai   trại-giam.
 Công-binh,truyền-tin,quân-y là những lực-lượng không thể thiếu được cho một trại-giam có lúc vượt qua con số ba chục ngàn chiến-binh Việt-Cộng đã bị hóa-giải vũ-khí, xa rời cuộc chiến !
 Trai-giam tù-binh Cộng-Sản Việt-Nam Trung-ương /Phú-Quốc là danh-xưng chánh-thức của căn cứ có chiều dài gần bốn cây số và ngang khoảng 2 cây số nầy.
Bốn tiểu-đoàn Quân-Cảnh gồm TĐ7-TĐ8-TĐ9 phụ-trách giam-giữ ;canh-gác tù-binh.
Tiểu-Đoàn 14 có nhiệm vụ trừ-bị cho trại-giam .


Ngoài ra,từ Đồi-Sim (Bệnh-Viện của trại-giam),quẹo phải,đi xuống chân đồi băng qua một quãng rừng vắng hơn  một cây số sẽ có một doanh-trại nữa cũng do Quân-Cảnh đảm trách
Đó là Trại Quân-Kỷ Phú-Quốc.
 Qua khỏi trại Quân-Kỷ khoảng 400m.trước mắt là Bãi Khem .
 Bãi biển có liên quan đến lịch sử nước nhà trong cuộc ttranh hùng của hai vị vủa nổi tiếng  là Quang Trung và Gia Long.
 Với chiều  dài khoảng 5 cây số ,từ thềm nước ra xa cỡ hơn hai trăm mét mới gặp  vùng nước hụt chân.
 Ven bờ là những cây dừa,cây thông mọc hoang cùng các lùm cây được tạo thành theo cách tự nhiên .Bãi Khem được cho là bãi biển đẹp nhất ở miền Nam Việt-Nam,với cát trắng mịn,tinh trắng  cùng với các loại  dây leo hòa-quyện nhau làm, nên vẻ đep    hoang-sơ như ngàn năm về trước.
Bãi Khem hiện hữu với một mạch nước ngọt cách bờ  biển khoản 40 mét.
 Đây là một trong  hai dấu tích còn sót lại của Gia-Long trong cuộc bôn-đào sinh tử bởi những cuộc săn-lùng ráo-riết của Quang-Trung.
 Không xa đó,dấu tích vài chục  tảng đá ong và một hồ cạn cùng dăm ba lá bông Súng cằn cỗi,tàn-phai,mà căn cước của nó đã chứng minh  dấu chân của tiền nhân, đã là những là vết tích tàn-phai của một  cổ-thành phòng thủ sau khi đã  an-lành thoát nạn.
(Những ghi nhận nầy ở vào thời-gian tháng sáu hoặc tháng 7 năm 1971).

 Trại Quân kỷ đã giải-tán và các quân nhân của đơn-vị nầy đã sáp-nhập vào tiểu-đoàn 9 QC.
  Những tù-binh được-giam giữ ở đây phần lớn  được chuyển từ bốn trại giam nam tù-binh CSVN ở khắp bốn quân-khu trong đất liền ra .
 Khởi từ lúc mới thành-lập,Trại-giam TBCS.VNTU/Phú-Quốc có một danh xưng khác là Trại-giam tù phiến loạn VN Phú-Quốc.
Nhưng về sau nầy,do áp-lực từ Mỹ nên tên gọi chính-thức đã được đổi  theo danh xưng nêu trên .
 Tù-binh,theo Công-Ước Geneva đã được 194 nước trên thế-giới ký vào năm 1949 ở Thụy-Sĩ nhằm để bảo-vệ cho những chiến-binh,những hàng-binh bị loại khỏi vòng chiến  được quản thúc trong khi chờ đợi cuộc chiến chấm dứt.
 Và,cũng  theo tinh thần của công-ước đó,những  tù binh nầy vốn không có tội.
Họ được quyền hưởng sự chăm sóc sức-khỏe đầy đủ.
Họ phải làm-việc theo nguyên-tắc của Công-ước Geneva là "Có làm có ăn".
Họ được hưởng tiêu chuẩn lương-thực như những quân-nhân canh-giữ họ.
Ở đây,xin được mở ngoặc về những tù-binh CSVN được giam-giữ ở Phú-Quốc :
 Với hai mươi mốt kg gạo một tháng cho mỗi đầu người và hàng ngày nhà thầu chở cá tươi đến,đại diện của tù-binh sẽ đích thân kiểm nhận.
 Nếu như cá tôm thiếu tươi họ sẽ có quyền khước từ ký nhân.
 Phi cơ quân-sự mang những loại rau cải (trái su,cải bắp...) từ đất liền cho họ.
 Cơm gạo lúc nào tù binh ăn cũng dư thừa,họ sẽ phơi khô làm lương-thực dự phòng cho những cuộc đào-tẩu !
 Xin phép được tự giới-thiệu,người viết lại những sự-kiện nầy là một nhân-viên Quân-Cảnh đã phục-vụ ở trại-giam nầy từ giữa năm 1971 cho đến khi tất cả tù-binh CSVN đã được trao-trả hết ở Lộc-Ninh và Sông Thạch-Hãn.
 Sở-dĩ cần phải lên tiếng là vì,bạo-quyền Hà-Nội đã dựng-đứng,đã ngụy-tạo,đã đặt điều đã dựng đứng  nhằm mục đích dối gạt những du-khách,những người sinh ra sau cuộc chiến cũng như một số người cả-tin ,qua những tuyên truyền quy mô và lâu dài  của Việt-Cộng về những điều KHÔNG HỀ CÓ xảy ra ở trại-giam nầy.
 Khi cho tái hiện lại một hành-động dã-man là vào những năm xưa ,lúc còn là trại giam nhân-viên QC của Quân lực VNCH đã   thả tù-binh vào chảo dầu đang sôi ,nó đã cho biết trình độ dóc láo của giới cầm-quyền ở VN hiên nay đã đạt đến cực-điểm của trí tưởng-tượng bệnh-hoạn là  hư cấu  một điều...không bào giờ có.
 Nó chứng tỏ cho biết Việt-Cộng bất chấp mọi thủ-đoạn dối trá nào để hạ-nhục,để đặt điều để đổ.để trút  tất cả những cái xấu lên đầu cho những người đã thua cuộc.
 Nó chứng tỏ cho mọi người thấy rằng những lời hoa-mỹ nào là hòa-giải,hòa-hợp của đám thổ-phỉ cầm quyền chỉ là trí-trá điêu-ngôn,xảo ngữ.
   Cuộc chiến đã qua từ lâu lắm rồi !.
Các thế-hệ tiếp nối , có rất nhiều người đã  nhận chân ra những dối trá,những gian-manh của bọn người tự xưng là "chiến-thằng"!.
 Cuộc chơi vừa rồi rỏ ràng là bất cân xứng ,bởi vì quân xâm lược,vốn là loại tiểu-nhân hạ-tiện ,còn người chống đở lại quá tư cách để tôn-trọng phẩm giá với danh-dự của con người,cho dù những chiến binh trước đó không bao lâu đã hiên ngang,đã oanh liệt mặt đối mặt cùng giao tranh,sống mái  với họ.
 Cho nên dù đã bị giam giữ  trong  những hàng rào kẽm gai ,thế nhưng những chiến-binh CSVN vẫn được đối xử tử-tế đến cái độ lâu-lâu họ lại "bắt giữ"những nhân-viên QC tuần-tiểu trong khu giam làm con tin để kêu đòi những điều cực-kỳ vô-lý....mà sau đó chẳng ai làm gì được họ.
Lý-do?
 Các cố-vấn Mỹ , các thành viên quan sát  sinh hoạt của tù binh rong tích-tắc đã có kế bên để bảo vệ cho họ !
 Đó không phải trọng-tâm  của  câu chuyện nầy.
Điều đáng nói và cần nói thẳng vào mặt  bọn cầm quyền Hà-Nội vô-liêm-sĩ,mà đê-tiện nhất là tạo dựng đặt những điều không có với mục đích kiếm những đồng tiền ngây thơ của một số du-khách.
 Thế-giới nầy,hiếm thấy nước nào như vậy.

Phạm-huỳnh-Ngân.& Huỳnh hồng Hiệp.
Ảnh mới nhất chụp được ở An-Thới vào tháng hai năm 2016 ,địa-điểm du-lịch hiện nay.Ảnh trên,
với trang phục QC hai hình nộm do Việt-Cộng dàn-dựng  đã "trình-diễn" cảnh-tượng man-rợ là "Quân-Cảnh ngụy "thả tù-binh vô chảo dầu !"

Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2016

Thiên-thần gãy cánh ,hạ xuống xe lăn !

Cựu thiên-thần mũ-đỏ Lâm-thành-Liêm ngồi trên chiếc xe lăn mới toanh do cô
Bảo-Trân Ngọc-Nguyễn mang từ Mỹ-Tho qua tặng.
Phía sau là Bà Liêm.
Trước khi sảy ra những trận chiến đẫm máu vào mùa hè 1972,thiên-thần mũ-đỏ Lâm-thành-Liêm đã giả-biệt chiến-trường.
 Gãy cánh ở mặt trân Tây-Ninh vào ngày 5 tháng 01/1971 với càm dưới cùng gần phân nửa lưỡi đã rơi- rớt đâu đó nơi mà hai bên ,có bạn có thù đang tận-tình quần thảo.
 Bốn mươi bốn năm  sau ,cơn giật sinh-tử làm đứt mạch máu dẫn đến tê-liệt nửa phần thân-thể .
 Kết-quả, hiện ngay trước mặt là vợ và con phải gánh vác hầu-hết những công-việc nặng,nhẹ trong gia-đình, lại phải kiêm thêm dìu cõng chồng và cha lên lưng nếu gặp lúc đi đứng ra vào,qua lại cùng láng-giềng ,chợ búa .
 Vợ của thương binh Liêm vừa làm "con Cò lặn-lội bờ sông " để nuôi bốn miệng ăn ,trong đó có một đứa cháu nội.
 Chật-vật trong việc mưu-sinh,lại vừa phải gánh-phần cơm nước sơm chiều cho gia-đình quả thật không dễ cho một người  chỉ có hai tay.
 Nhất là kể từ sau cú tai biến ngặt-nghèo giáng xuống cho người thương-binh.
 Bị chà-đạp,bị sách-nhiễu,bị trù-ếm,bị dòm ngó là việc tất-nhiên mà những người ngả-ngựa phải hứng chịu từ những kẻ thắng được cuộc chơi .
 Hơn bốn mươi năm,như người mù bị ở trong bóng tối,ngoài những bằng-hữu cùng một mẫu số chung là làm kiếp con người bất-hạnh,Liêm cùng gia-đình dùng mọi phương-cách lương-thiện để mưu-sinh,để sống còn trên một đất nước đầy những bất-công,tràn dư nghịch-lý.
 May thay,một đồng hương đã "phát-giác" ra người chiến-sĩ năm xưa,nay đang sống ...chập-chờn giữa những đau thương,thiếu-thốn, nên những tin-tức của Liêm đã tức-thì khai mở.
 Hội cứu-trợ Thương-phế-binh và Quả-phụ QL.VNCH đã tiếp-viện hai kỳ,mỗi kỳ một trăm đô-la.
 Thân-hữu năm xưa của Liêm là Bạn Nguyễn-văn-Phước cùng Ngọc ở Melbourne Australia đã ân cần nhường cơm sẻ áo hai kỳ với hai trăm Úc-kim.
 Trần-mạnh-Quỳnh,một cựu mũ-đỏ cùng một số thân-hữu Nhảy-Dù cùng ra tay giúp người hoạn-nạn.
 Bà Lang và người con Bảo -Trân vừa tặng xe vừa tặng tí tiền còm cho người bất-hạnh.
Và,
Giống như nhiều câu chuyện có hậu khác mà chúng ta thường được đọc,được nghe cho rằng tiền-hung,hậu kiết :
Chiếc xe lăn tuy đến muộn-màng nhưng nó trong tức-khắc đã là một ân-nhân,một vật bất ly thân và là một con sông dài chở-chuyên tình-nghĩa.
 Thương-binh Lâm-thành-Liêm ,tay run viết khó ,phương-tiện truyền-đạt không có ,mất phần lưỡi nên diễn đạt lời nói không-thông nên mượn địa-điểm Tháng Tư đen75 nầy để tỏ lời tri-ân đến tất cả Mạnh-thường quân đã ra tay cứu giúp.
ThángTưđen75.


TỪ MẪU DẶN DÒ .

  TỪ MẪU DẶN DÒ.              *+*  Xin được thanh minh trước ,về cách xưng tôi trong tạp ghi này .Tôi ở đây ,xin thưa không phải là các...