Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2022

“ GIÓ ĐƯA CÂY CẢI VỀ TRỜI..


….”Qua không bỏ các em đâu…!”
Xin phép ông Lê ngọc Danh,trung uý  tuỳ viên của thiếu tướng Nguyễn khoa Nam cho tôi được trích lại một đoạn ngắn trong hồi ký của ông về những giờ cuối đời của một vị danh tướng của miền Nam Việt Nam, được nhiều người ngưỡng mộ 
Đó là một trong những câu nói ít ỏi của ông tướng tư lệnh trong ngày khai tử chế độ VNCH  nơi mà quân dân ở thủ đô Saigon,nhiều người vẫn còn đặt kỳ vọng đến nơi đó để lập phòng tuyến chống cự lại Bắc quân ,trong khi ấy, họ đã ồ ạt vào đến cổng dinh Độc Lập đã được mở toang do lệnh đầu hàng của ông Dương văn Minh.
  Cấp bậc,chức vụ ,chiến công,tài năng cùng với tư cách của vị tướng tư lệnh Vùng Bốn kiêm Quân khu Bốn ở Cần Tho chắc cũng đã có nhiều người biết vào thời chinh chiến đó rồi.
  ***
 Theo hồi ký này,ông tướng đến thăm hỏi những thương binh ở quân y viện Phan thanh Giản.Tại đây,một chiến binh Địa phương quân  thuộc tiểu khu Vĩnh Bình (Trà Vinh) bị thương nặng với hai chân bị mất ,mà máu vẫn chưa ngừng chảy,dù đã băng bó.
 Với thương tích trầm trọng như vậy,có lẽ đặc biệt quan tâm ,nên ông tướng đứng sát kế bên và bất ngờ người lính cụt chân nắm tay ông mếu máo nói:
  -Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhé!
Câu nói của một thương binh và với mức độ thương tật đó thì không cần phải ra hội đồng y khoa để giám định mức độ tàn phế nhưng chắc chắn anh đã hoàn toàn bị loại ra khỏi vòng chiến rồi.
  Vậy,câu nói với lời lẽ chứa đầy khẩn khoản kia rõ ràng không phải chỉ để “xin xỏ " một vài ân sũng riêng cho phần mình .
   Anh thương binh mất hai chân nhưng bộ óc vẫn có dư sáng suốt và cho dù thân thể đau đớn và đang nằm ở quân y viện vẫn biết những diễn biến hệ trọng có tính cách mất còn của đất nước.

  Ông tướng,dĩ nhiên là một con người không khác biệt gì với người lính kia.Nếu có,họ chỉ khác nhau trách nhiệm quân đội giao cho họ và cấp bậc của họ được mang trên cổ áo hay trên cánh tay để thi hành nhiệm vụ mà thôi.
   Câu hỏi ấy nếu được đưa ra trước đó một năm,có lẽ phản ứng bằng câu trả lời và thái độ của ông tướng khác xa.
 Lời khẩn cầu của một thuộc cấp đưa lên thượng cấp vào cái lúc này nhất định là cầu mong vị tướng quân hãy đừng đào ngũ mà hãy ở lại để cùng  chiến đấu với quân thù.
 Tuỳ viên Danh,chắc chắn không cần phải tâng bốc anh thương binh kia cho dù trong bất cứ trường hợp nào vì những lý do như sau.
  Thứ nhất,tên câp bậc không có ghi chép.
  Thứ hai ông tướng,sau đó đã  vĩnh biệt cuộc đời binh nghiệp,cho nên ngay trong giờ phút mong manh ấy,tấm lòng yêu nước cao độ của người lính kia dâng cho đất nước mà,qua trung gian của ông Tướng,anh ta muốn đạo đạt.
   Thứ ba,hồi ký này,trung uý Lê ngọc Danh đã viết về sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm ,ngay cả số phận của những thương binh trong quân y viện mà tướng Nam đến thăm viếng như một dấu hiệu vĩnh biệt những chiến hữu của ông cũng không có ai biết được sẽ như thế nào khi phía “thắng trận “ tràn vô với khí thế rực lửa hận thù!
 Xa hơn một chút,ở Saigon nơi Tổng y viện Cộng Hoà  đúng 6 giờ chiều ngày 30 tháng Tư/1975  tất cả thương binh của VNCH phải ra khỏi.Không một ngoại lệ nào cho dù mù hai mắt,ruột lòi ra ngoài hay cụt hết tay và chân.
 Đi ra và phải ra!
    ***
 Khi bị nắm sư tay với một thỉnh cầu , không phải chỉ cho riêng mình mà cho ít ra cũng cả Quân Khu Bốn,theo diễn tả của tác giả hồi ký tướng tư lệnh Vùng đã thật sự bị xúc động—hết sức bất ngờ!
 Bất ngờ đến độ ông không dấu ém được những giòng lệ rơi,của một người lính cả đời chinh chiến.ông chỉ trả lời vắn tắt :-“Qua không bỏ các em đâu,Qua ở lại đây với các em.”
  Xưa,truyện Tàu,một vị vua có tư cách người ta thường dùng câu:”Quân bất thí ngôn “,ý nói vua không nói gạt,nói dóc với con dân.
  Nay,một vị tướng đưa ra lời hứa cho dù ở nơi ít người và tiếng nói chỉ được một vài người bất toàn thân thể nghe được.
  Và chắc nịch như dinh đóng cột TƯỚNG giữ đúng lời,qua ở lại đây với các em !
 Lời của tướng được bảo chứng bằng một cái chết hào hùng của ông, không thua gì những cái chết của bao nhiêu từ sĩ khác nơi chiến trường  bom đạn.
 Giữ lời hứa với không chỉ với tất cả thương bệnh binh nơi đó mà ông còn muốn giữ tròn tiết tháo để bảo toàn danh dự cũng như trách nhiệm xưa nay của một viên tướng giữ thành.
 Thành vào tay giặc,tướng có tự trọng tức nhiên phải biết tự xử.
 Ông tướng có trách nhiệm cả một vùng đồng bằng bao la với hàng triệu con người hiền hoà dùng tư cách cao thượng làm gốc để giao tiếp giữa những con người với nhau.
 Ở khu vực thông thoáng trong lành đó,có nhiều câu hò,bài hát,ca dao để diễn đạt những mất mát mà người còn lại mãi mãi  vấn vương,thương tiếc :
                          Gió đưa cây Cải về trời,
                    Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay !
 Năm xưa tướng quân Trần bình Trọng,thà làm quỷ nước Năm hơn làm vương đất Bắc với câu nói khí khái ấy đã ưỡn ngực chịu chém.
  Bài học yêu nước bằng cả hôn lan xác của tiền nhân khi xưa,huyền diệu thay,hơn 700 năm sau con cháu của các Người vẫn còn thuộc và thuộc lòng .
Quốc hận thứ 47.
H3 & Phạm huỳnh Ngân.



Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

MẸ VẮNG CHỊ THAY .

 Ở các nước nghèo lại có chiến tranh,nhiều  gia đình bị phân ly,cha thất lạc hoặc tù đày,mẹ bị chết trong lửa đạn hay bị bạo bệnh chết để lại một đàn con là chuyện thường gặp.

  Trong trường hợp này,người chị cả sẽ mặc nhiên kiêm nhiệm vai trò là mẹ của một bầy em thơ đủ lứa tuổi .

Nhiều ,  có nhiều thảm cảnh như đã miêu tả và hoàn cảnh ngặt nghèo đó đã cưỡng bách người chị lớn (hay người anh đầu đàn)chỉ hơn mười  mấy tuổi đời phải chu toàn trách nhiệm của một người ở tuổi trưởng thành.

   Cũng cần phải giải thích đôi chút về sinh hoạt trong xã hội của những quốc gia được gọi là 'chậm tiến' hay nghèo khổ như nước Việt mình  .
  Trong thời kỳ bị đô hộ của ngoại bang và thời gian chuyển tiếp được gọi là độc lập tiếp theo đó .Lúc ấy, xứ sở của tôi không mấy ai nghe tiếng ‘An sinh xã hội ‘ mà nếu có nghe đi nữa cũng không hiểu nó là ý nghĩa gì.
 Cũng như mấy tiếng kế hoạch hoá gia đình hoặc hạn chế sanh sản là các tiếng nói về nhiều năm sau này,khi đất nước đã mở rộng giao lưu với thế giới chung quanh người ta mới hiểu biết rồi áp dụng.
  Nam nữ gần nhau,sinh con là chuyện ..hết sức bình thường.Dù khấm khá giàu có hay nghèo mạt rệp ,người mẹ tương lai của đứa trẻ sắp ra đời ,có đủ khả năng đùm bọc,nuôi nấng cho đến khi nó  khôn lớn hay không sẽ là một câu hỏi người ấy khó hoặc không dám trực diện tìm câu giải đáp cho ổn thỏa.
  Ngay cho đến những năm sáu mươi,ở xứ mình vẫn còn không ít người ..quan niệm rằng…‘trời sanh Voi,sanh  Cỏ‘.Chưa sẵn sàng chu toàn khả năng chăm sóc ,không biết chắc (mình/ai đó)có đủ nguồn tài chánh nuôi đứa trẻ cho đủ dinh dưỡng lúc khỏe mạnh và thuốc men khi nó bị đau yếu hay không  .
    ***
  Trong những năm cuối của thập niên 1940, nước mình đã có nhiều đảng,lực lượng,phong trào,đoàn thể..khắp nơi nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của thực dân Pháp.
 Có thể dùng chữ loạn ly :-Loạn (Pháp đàn áp,tra khảo,đánh đập những người chống lại họ)-Ly:tù,trốn đi xứ khác,chết không để lại tông tích..
 Không chỉ có thực dân Pháp giết người Việt yêu nước chống lại họ,mà có lúc người mình giết lẫn nhau nhiều hơn.
  Việt Minh ( CSVN)giết những lực lượng nào cùng chống Pháp nhưng không cùng đường lối CS với họ.
 Thời kỳ này cho đến năm 1953-1954 có thể dùng tiếng đại phân ly.Thời của ly tán,của đoạn tuyệt,của nát tan dẫn đến nhiều trường hợp chia lìa vĩnh viễn.
 Một bất hạnh lớn hơn nữa,khác hơn nữa là cuộc chiến đang diễn ra chưa có dấu hiệu nào chấm dứt thì một trận sống mái trong tương lai đã được người ta lên kế hoạch chi tiết,lập gia sa bàn để thực tập !
 Đó là sự chuẩn bị chu đáo cho hơn một trăm ngàn người Việt yêu nước ở miền Nam VN rời bỏ cha mẹ kể cả vợ con lên đường “tập kết “ra miền Bắc xa xôi,chuẩn bị cho trận nồi da,xáo thịt thời 60'
  Quyền “A thousand tears falling “ của tác giả Yung Krall, một người Việt tị nạn có chồng là sĩ quan hải quân Mỹ.
 Gia đình của bà Dung (tên Việt)là nạn nhân có thể xem là tiêu biểu của thảm kịch phân ly sau những năm  làm thân phận nô lệ rồi bị rơi vào tình cảnh mỗi người một ngã,có thể nói không có ngày trùng phùng xum hợp.
 Quyền sách Ngàn giọt lệ rơi,như đã dẫn,theo tôi ,chỉ diễn đạt được một phần nhỏ khổ đau vì cuộc đao binh "củi đậu nấu đậu",theo cách nói của một trong hai ông :Nguyễn Nhạc hoặc Nguyễn Lữ ,và đó chỉ là một nhánh sông nhỏ khổ đau trong cái trùng dương đau khổ bao la của dân tộc chúng tôi từ  Bắc chí Nam  đúng với câu :”Họa vô đơn chí !”.

 Người Việt có truyền thống định cư chứ không phải du canh,du cư.Họ muốn được ở yên thân một nơi với mồ mả tổ tiên để dễ bề chăm sóc, thăm viếng vào các dịp Thanh Minh ,những ngày trước Tết.
 Bất hạnh thay!
Chỉ với ước vọng nhỏ nhoi,đơn giản đó mà đã có rất nhiều người,rất nhiều gia đình cả cuộc đời cũng chỉ là mơ ước!
  Nghịch cảnh giống như những lượng sóng ở trùng khơi từ sau dồn dập đẩy tới triền miên,liên tục về phía trước.Nước Việt Nam của tôi vào thời kỳ với tình cảnh đó,con người không làm sao cưỡng lại được những nghiệt ngã với áp lực bủa vây vô cùng nặng nề mà chỉ cần một biến động ở vùng,ở khu vực đó là bị cuốn hút vô.
  Gia đình chúng tôi,lại ở dưới mức bình thường trong cái xã hội bất an đó,cho nên thời cuộc với nghịch cảnh khó mà tránh thoát!
  ***
 Khi tôi lìa bụng mẹ thì người chị lớn nhất của tôi đã mười hai tuổi.Cha mẹ cùng ba người chị với người anh  chạy giặc Tây (Pháp)từ Bến Tre qua Trà Vinh tản cư đã trở về quê cũ.
 Đó là một làng quê ở sát bờ sông Cái ( Tiền Giang),nếu không có mùi thuốc súng sẽ là một cảnh đẹp ,nhất định khách phương xa đến sẽ  không tiếc lời khen.
  Dừa cây,dừa nước trên bờ ,cặp theo sông rạch uốn lượn theo gió vào chiều tà hay bình minh với những tia nắng ban mai chen qua hàng ngàn tàu lá dừa,trong cái rừng dừa trùng điệp.
 Hai làng,Phú Túc-Phú Đức được phân chia  bằng con sông Cả Sơn hiền hoà . Và con sông màu đục sậm phù sa ấy đã trở thành “chứng tích “ cho cuộc chia cách gia đình chúng tôi với một cặp vợ chồng cùng  bốn người con thơ,mà lớn nhất là mười hai và nhỏ nhất vừa lọt lòng mẹ.
 Chị tôi,phải nhận lấy trách nhiệm từ kết quả của cuộc chia tay giữa cha với mẹ tôi trong điều kiện không có chọn lựa,cũng không có quyền cân nhắc,nghĩ suy!
 Chị chỉ có tuân lịnh và phải làm tròn bổn phận.
  Cha tôi,còn sống và vắng nhà.
  Mẹ tôi,một phụ nữ có tầm vóc dưới trung bình,sau  thời gian đi làm thuê cho chủ những vườn dừa dài mút mắt,từ sáng tới chiều cũng không đủ tiền mua gạo cho sáu miệng ăn.Nên,sau cùng bà để năm người con ở lại quê nhà .Bà nhận việc ở nơi cách xa nhà 15 cây số phía dưới,bên kia bờ sông Cái.
    Bốn người em,được người chị đầu đàn 12 tuổi chăm sóc với tài sản là những con số không thật lớn.
  Chúng tôi ở đậu trong cái nhà sàn cất trên bãi sình cặp bờ sông Cả Sơn với mái và vách nhà làm bằng lá dừa nước chằm lại với nhau.
 Sau nhà là sàn nước,trước nhà ,sát vách  là con lộ quê cho người đi lại trong ấp xóm với nhau.
 Cạnh đường lộ là mương tiếp theo đó đi sâu vô là miếng vườn dừa lớn,cây cối nhiều loại rậm rạp .Đó là mấy công đất trồng dừa,cây ăn trái và căn nhà sàn mà chủ nhân là người bác của chị em chúng tôi.
 Ông có cơ nghiệp ở tỉnh lỵ Mỹ Tho .Vườn tược với căn nhà bỏ trống để lúc nào mệt mỏi vì công việc ở thành thị ,cần nghỉ ngơi bác sẽ về đây cho thảnh thơi,giống như dân ở Saigon đi nghỉ mát ở Cấp vậy.
  Việc bác cho trú ngụ đã là một ân huệ rồi,ngoài ra bác còn cho lượm dừa khô rụng rãi rác ở trong khu vườn để bán hay đổi chác một vài thứ cần thiết nơi tiệm tạp hoá trong ấp.
   ***
 Chị lớn nhứt,theo cách xưng hô của miền Nam thì tôi kêu là chị Hai chứ không kêu tên.
 Cha mẹ tôi ở chốn quê mùa lại thích đặt tên con gái là bông hoa.Có lẽ,theo ông bà các loại hoa đẹp cũng làm cho đời rực rỡ hơn , như mùi hương của các loại hoa kích thích khứu giác của loài người sinh động hơn .
  Chị Hai,Hoa Lài;loài hoa cống hiến cho đời mùi thơm thanh nhã quanh năm, nhất là nửa đêm về sáng.Trà ướp hoa Lài ( nhài)cho người uống vào thấy thanh thoát hơn.
   Chị Ba,Hoa Cúc , một loại hoa chỉ nở về mùa Thu,cho màu vàng không quá rực nhưng vẫn đủ cân bằng khí hậu dịu dàng dễ chịu của ngày tháng nhiều mây.
 Chị Tư,Hoa Huệ với hương thơm tinh khiết và luôn được đặt ở những vị trí trang trọng trong nhà,ở phòng khách hay các nơi thờ phượng.
  ***
 Tôi tin chắc cha mẹ lúc xa rời nhau,không ai trong hai người có dự liệu chị Hai của tôi có thể “gánh “ nồi một cái gánh nặng có trọng lượng nặng gấp mấy lần sức nặng của thân thể chị và thoạt nhìn rõ ràng ,trách nhiệm ấy nó quá sức chịu đựng khá xa .
  Bất hạnh và  đáng thương,đáng ca ngợi nữa là tình cảnh của chị giống như một cây Trúc mãnh mai đứng giữa trới đất bao la chịu đựng hết cơn gió dùi tới cơn bão khác dập tới.
  Hai chị lớn nhất lại cách nhau bốn tuổi.Cho nên,ngay từ ngày đầu nhận nhiệm vụ,chị Cúc tám tuổi,cho dù có muốn phụ giúp chị lớn cũng không làm được việc gì nhiều hay khác hơn.
 Trong lúc đó,tôi không có sữa mẹ để bú.Chỉ có nước cơm với muối,cho nên ốm yếu đau bệnh thường hơn và cũng là một gánh nặng triền miên trên vai chị Cả.
  Năm miệng ăn,chỉ trông chờ vào số tiền lương hàng tháng của mẹ,dùng để mua gạo và những nhu yếu phẩm thật cần thiết như dầu lửa,nước mắm,muối.Còn thức ăn thì chị lớn chỉ cách thức câu những con cá Bống Dừa dưới mương cạnh hàng trăm bờ dừa  .Thời đó,người lạ đi vô vườn tược để câu cá không bị ai cấm cản.Còn con sông Cả Sơn cũng là nguồn cung cấp cá Lòng Tong,tép bạc cho chị em tôi đều đặn,ngoại trừ những ngày nước ‘lớn ‘hay tháng Tám âm lịch là mùa nước “rong”,khó kiếm cá tép.
 Trong mấy lúc đó trái dừa khô được đem tới tiệm tạp hoá đổi lấy tương,chao về ăn.Rau gần như có quanh năm, rau Cải Trời,đọt của dây Nhãn Lòng ,đọt rau Chạy,Bắp Chuối.. ăn được mọc ở nhiều nơi .
Chị Hai ,hàng tháng bồng tôi đi theo chuyến đò dọc trên sông Cái xuống Mỹ tho nhận tiền của mẹ cùng với những thứ cần dùng.Đó không phải là công việc nặng nề đối với chị,trách nhiệm dòm chừng đừng để mấy đứa em nhỏ té hay rớt xuống sông chết chìm mới quan trọng không kém,rồi lại phải đi tìm cá,tìm rau, nấu cơm ,giặt đồ với tắm rửa cho ít nhất cũng ba đứa em nhỏ.
   Tôi không bao giờ tin rằng những việc làm bình thường trong nhà trong cửa ấy của chị là một việc dễ.Bởi ít có những đứa trẻ con nào mà chịu ngồi yên một chỗ và,nếu như nó ở trạng thái đó thì những gian nan khác sẽ làm cho người lớn lo lắng bất an hơn.
 Khi trưởng thành,tôi mới thấy sức chịu đựng phi thường trong trái tim yêu thương những đứa em mình nồng nàn,tuyệt đối của chị và cho đến giờ này,sau gần bảy mươi năm chị lìa xa cõi đời,lúc nào hễ nghĩ,hễ nói tới chị Hai Lài thì ngay tức khắc với tôi chị là một bà tiên dịu dàng với nụ cười thánh thiện luôn nở ở trên môi,che dấu đi  nơi chốn sâu thẳm  những nỗi phiền muộn cùng sức chịu đựng với tầm lòng từ ái khôn cùng.
 Bởi cho nên,nhắc tới chị,ngay bây giờ đây,tôi cũng chẳng ngại ngùng gì mà không thả tự do cho những giòng nước mắt tuôn trào.
 ***
  Gia đình bất hạnh,riêng cá nhân tôi lại được cả ba  người chị cố bù lắp những thiếu thốn,những trống vắng gần gũi cùng tình yêu thương của song thân .
 Vì là đứa em út lại được chị Hai nuông chiều ,cho nên quen cái thói nhõng nhèo đó thì không được với chị Ba Cúc.Chị Ba thương,cưng nhưng không nuông chiều.Tôi đã được người chị thứ nhì nầy dạy dỗ từ việc thấp tới điều cao nhất,sau khi chị Lài đã ra, đã rời xa cõi trần sau 20 năm cơ cực của kiếp người.
 Chị Ba nuôi dưỡng tôi từ năm 13 tuổi cho đến gần hai mươi năm sau.Trước đó,Hoa Huệ chị Tư của tôi cũng trần ai ai khoai củ với đứa em út bệnh hoạn ,yếu đuối và lúc nào cũng có chị bên em.  
  ***
  Cho đến giờ này,tôi vẫn không cho là hoàn cảnh gia đình của chúng tôi là cá biệt hay hiếm có đối với các  người khác trong cùng hoàn cảnh cùng thời gian.
 Có điều, thứ nhứt tôi tin tuyệt đối rằng có đấng quyền năng đã ban ân sủng cho chị em chúng tôi .
  Thứ nhì,giáo dục từ gia đình bên ngoại và tất cả quý thầy cô ,rằng,”Giấy rách phải giữ lấy lề “ là có ,là đúng thật,
 Thứ ba,nền giáo dục thời đó với xã hội chung quanh cho nên con người  vẫn còn cư xử với nhau bằng nhiều điều tốt đẹp.
 Tôi mong câu chuyện thật trên đây đừng hoặc ít xảy ra cho những người chung quanh trên khắp mặt đất này.Bởi,khổ là điều không mấy ai mong muốn.
H3.& PHẠM HUỲNH NGÂN.
 
 

  




Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2022

BẢN “TƯỚNG MẠO QUÂN VỤ “.

Nếu tính kỹ,
Còn bốn ngày nữa tôi tròn sáu năm rưỡi mặc áo nhà binh .
 Số năm…ít ỏi đó,tôi chỉ dám trả lời mạnh dạn với mấy tay tân binh hoặc quý vị trên ve áo móc cái lon chuẩn uý mới tò le 
   thôi,chứ tuyệt nhiên không dám kể ra với mấy ông thượng sĩ ,trung sĩ nhứt ,kể cả mấy bạn mình trên vai trái mang một lúc một cánh gà luộc với hai  cánh gà chiên bơ vàng cháy!
  Bởi, nếu lỡ dại khai ra thì nhiều khi bị một câu,tuy không phải công thức nhưng từa tựa như nhau:
 - Mày đi lính không bằng ngày tao nghỉ phép nữa!
(Hoặc lối hơn ..là ngày tao khai bịnh ,hay  vừa mất dạy vừa tục hơn là.. ngày tao đau lậu nữa…)
Trong thời gian đó không hiếm những ân tình,những hy sinh,những gánh vát  mà nhất là chia xẻ gian  nguy,cơ cực  khổ sở  với nhau.
Khó có câu chuyện nào,từ hội ngộ và lúc chia tay, chỉ khác tháng ngày...chỉ khác các diễn biến của thăng trầm,vinh nhục .
Tân binh!
Tôi trình diện đơn vị trưởng ở trại Trần hưng Đạo  ,với KBC 4002/QC.
Và,danh xưng chính thức  tình trạng quân ngũ của tôi là “Đặt thuộc quyền xử dụng của Phòng Quân Cảnh" bộ Tổng Tham Mưu.
***
Xa gia đình,thay dạng,đổi hình ,đổi cả cách sinh hoạt của đời dân sự đầy những thứ …thường tình mà quân đội chê và cho rằng đó là cách sống yếu ớt.bênh hoạn,không có chỗ đứng trong hàng ngũ thanh niên nam,nữ thuộc thế hệ trai hùng trong thời chinh chiến !
 Bằng kỷ luật thép buộc phải đoạn lìa !
  Và,khi  hai chân đã bước vào "Ngưỡng cửa của quân đội" thì con người thật hay giả ở ngoài đời đã bị bỏ lại sau lưng.
Đã vào đời binh nghiệp mà sáng sáng áo sống tề chỉnh  ra đi ,chiều ,chưa sập tối đã sớm trở về cũng vẫn cùng bộ quân phục ngày ngày không nhăn nheo sai nếp.
Sung sướng trọn bề,chỉ thua mấy chàng lính kiểng !
***
 Vào thời đó,với tuổi đời mới có hăm mấy,mà làm việc “gần mặt trời “một thời gian thấy cuồng chân.    Chán cảnh giờ giấc khít rinh với nơi làm việc im lặng đến độ con ruồi bay qua cũng nghe cùng với hết thẩy những khuôn mặt từ xếp cho tới các đồng sự ai ai xem bộ đều hà tiện nụ cười,tiếng nói .
 Thỉnh thoảng gặp và nói chuyện với các chiến hữu từ các đơn vị ở xa về.Họ kể về những sinh hoạt của binh chủng từ cực khổ đến thoải mái ,từ an lành đến sôi động…làm cho người tân binh làm việc văn phòng như tôi tràn đầy háo hức,nghĩ tới những linh động có làm việc cực nhọc mà cũng phải có lúc được bay bướm cho thõa đời trai !
  Thường,trong câu chuyện được kết luận là,ở ngoài đơn vị luôn luôn thoải mái hơn nơi gần mặt trời (như nơi tôi đang phục vụ đây!)
 Chỉ cần được phục vụ ở một nơi khác với không khí của bàn giấy và giờ giấc của quân trường là thỏa mãn  rồi!
***
  Rời khỏi KBC 4002,sau 12 tuần học về chuyên môn.Tiểu đoàn 3 đóng trong quân đoàn ba ở Biên Hoà.
Từ đây,tôi có mặt ở căn cứ Củ Chi (sư đoàn 25 BB/ Mỹ),rồi một thời gian sau đó,tôi đến doanh trại tiểu khu Tây Ninh cách không xa phi trường dã chiến TN.
 Thời đó,thị xã của tỉnh lỵ Tây Ninh liên tục bị pháo binh của Cộng quân uy hiếp liên tục bất kể ngày đêm.
  Từ Biên Hoà ,đến bộ chỉ huy tiểu khu Tây Ninh ,quân xa vừa ngừng bánh chưa tới mười phút là một vài trái đạn súng cối đã lọt vô đâu đó trong vòng doanh trại văn phòng .
 Những quân nhân cơ hữu ,ai nấy có sẵn hố cá nhân , nên sau một trái đạn pháo đầu là họ đã xuống hố cá nhân với nón sắt và súng đạn .Tôi với ba đồng đội nữa là “khách “ từ xa đến chỉ tạm dừng để làm những thủ tục cần thiết rồi đi tiếp.Nơi đó là Thiện Ngôn,vùng biên giới VN và Kampuchea .
  Độ dưới một chục quả đạn đại bác trong khi toán quân chúng tôi còn đang ngồi lì ngay hành lang trước văn phòng các ban của tiểu khu.
 Nghe tiếng đạn pháo kích từ xa thì nhiều nhưng bị ở vị trí chịu pháo thì đây là lần đầu trong đời quân ngũ..
  Có thể đó là tháng Mười năm 1970 cho đến tháng  Năm 1972,dù đi chuyển ,một phần do quân vụ,phần nữa là các khoá học .
 Quảng Trị,tinh địa đầu giới tuyến của VNCH bị lọt vào tay giặc Cộng.
 Tướng Ngô quang Trưởng được điều động từ vùng Bốn ra Quân khu Một để giữ Huế và tái chiếm Quảng Trị.
 Sau tướng Trưởng một tuần,chúng tôi một đại đội Quân Cảnh ,với quân số đầy đủ,trang bị súng trường M.16 với nón sắt.
  Xuất phát từ trường QC/QL.VNCH , Vũng Tàu được chuyển vận từ phi trường lúc ba giờ chiều bằng bốn vận tải cơ,trong đó hai chiếc C.119.
  Hơn sáu giờ một chút phi cơ đã lần lượt đáp xuống phi trường.
  Dưới phi đạo,gần lối chánh ra vào,thương binh với đủ loại quân phục nhếch nhác nằm ngồi là liệt trên phi đạo. 
  Phi trường  Phú Bài là hàng chữ đầu tiên tôi thấy được và biết mình sắp tới đâu.
 Những tiếng vỗ tay,huýt gió với những nụ cười hớn hở trên mặt,trên môi của những thương binh đang chờ được tãi đi, tạo cho chúng tôi ngay lúc ấy có hai cảm giác. Vừa mừng cho các người anh em mình sớm đến được nơi chữa trị,lo rằng ,tới phiên mình lành dữ ra sao ở một nơi lạ hù lạ hoắc mà nhiệm vụ ,cho đến giờ này vẫn chưa được biết.
 Đơn vị tiếp nhận chưa kịp làm thủ tục thì có những tiếng nổ ấm,lớn từ ngoài phi đạo.
 Bố chiếc phi cơ thật nhanh đã bốc hết số người lúc nãy chúng tôi đã thấy.Rất mừng họ đã an toàn thoát vòng đạn pháo (ít ra cũng ở nơi đó !).
 Chúng tôi,bản năng sinh tồn cộng thêm với kinh nghiệm của người lính,cho nên phải tìm mọi cách để sống còn dưới những quả đạn từ xa nã tới.
 Lại cũng không hầm hay hố cá nhân trú ẩn và tay ôm chặt túi quân trang,tay chỉnh dây nón sắt cho được khít khao. 
  Chờ cho xong cuộc chơi kẻ nã người núp !
  Cũng may,đó là cuộc pháo đầu chào mừng hay dằn mặt không biết nhưng từ buổi chạng vạng tối hôm đi cho đến ngày hoàn tất nhiệm vụ tái lập lại sinh hoạt bình thường cố đô Huế,không có một lần pháo nào nữa của Cộng quân!
*** 
 Không biết tôi có méo mó khi định nghĩa hai câu rất thường gặp trong quân đội không :Biệt phái & Tăng phái.
 Theo tôi,một quân nhân hay một đơn vị được biệt phái có vị trí trên trước,được ưu đãi,được từ nơi cực nhọc sang chỗ bảnh hơn.Thí dụ như một anh lính Đia phương quân thuộc chi khu quận Châu Thành .Anh có khả năng chạy chọt,cho nên được cái sự vụ lệnh “biệt phái “ ty An ninh quân đội tỉnh,cho dù chỉ đứng gác cổng thôi nhưng cũng được chữ thọ và mượn được cây súng ngắn lận kín kín hở hở lễ lói với đời.
 Còn “tăng phái hay tăng cường “ theo nghĩa trong quân đội thì thuộc về …con ghẻ,tức nhiên bị dùng cho mòn,cho hư không thương tiếc chỉ với lý do là “ không phải quân số của mình”!
 Ai cũng biết ,miền Tây Saigon có tỉnh An giang (Long Xuyên)là tỉnh bình yên nhất,gần như không có dấu hiệu hay tiếng động nào có liên quan tới chiến tranh ở tỉnh này.
 Nhiều bạn mình tình nguyện hoặc chạy chọt được làm lính Địa Phương Quân của Tiểu Khu  thì tinh chắc là sống dài,sống dai  !
 Nhưng, thấy vậy mà không phải vậy !
 Những tỉnh giặc đánh không ngừng nghỉ như Rạch Giá,Cần Thơ,Chương Thiện…họ cần quân số gần như người cần lương thực.Vậy nên “tăng phái “ là việc cần thiết,là việc tình nghĩa của huynh đệ chi binh .
 Lẽ đương nhiên, một đơn vị lâu nay được hưởng nhàn nhã, với khí thế khỏe khoắn ,mắc mớ gì không lên kế hoạch cho truy lùng càng quét đám phiến quân ?
 Theo hai cách biết về biệt phái và tăng phái của cá nhân tôi trong thời gian không lâu làm thân lính thú,mà gần một phần ba của thời gian đó là..tăng phái.
***
 Lần tăng phái cuối cùng của tôi trong hơn sáu năm quân vụ là ngắn ngày nhất.
 Chỉ tròn ba mươi ngày nếu đem so với bất cứ cuộc vây hãm để bị tấn công,bị pháo kích của giặc thù như An Lộc ,Tống lê Chân,Cổ thành Quảng Trị ..hàng mấy trăm năm ngày với chết chóc,thức trắng từng đêm,ăn ngủ ngồi .. ngày nầy sang tuần tới của những người lính đánh trận không kịp cởi giày thì,cái cố chịu đựng có mấy chục ngày của tôi cũng không ăn nhằm gì.
***
 Sau hơn sáu năm “ở “ lính.
 Khởi đầu với “Đặt thuộc quyền sử dụng Phòng QC/Bộ TTM.”
  ***
 Cho tới khi tiểu đoàn 9 mãn nhiệm vụ canh giữ tù binh ở Phú Quốc được về đất liền ,tạm trú kho 18 thương cảng Saigon,lúc bấy giờ tôi mới hiểu rõ hai tiếng tăng phái.
 Tôi được tăng phái cho đại đội D6/QC ,toán giải giao.
Khỏi cần phàn nàn.Tăng phái là bị xài hết nước,chỉ vì là “con ghẻ “!
 ***
Khi bắt thăm trúng tiểu đoàn 5,tôi chỉ biết được sân cờ và cổng của tiểu đoàn.Ngay cả tên ông xếp tiểu đoàn trưởng với ông đại đội trưởng ,tôi cũng không kịp biết chứ nói chi tới KBC mấy…
 Giờ,tôi “tăng phái “ với đơn vị gốc là tiểu đoàn 5 QC.
 Vẫn cảnh cũ,người-thời có khác.

   Ngày hai tháng Tư/1975 tôi được lệnh trình diện Đại đội 1 Quân Cảnh ở Trại Trần hưng Đạo,thuộc bộ TTM.QL.VNCH.
 Trách nhiệm của tôi ban ngày từ sáng đến chiều là đứng ở các nút chặn vòng đai nới rộng của  Đại đội 1 Tổng hành Dinh ở những giao lộ như Võ duy Nguy,Trương tấn Bửu,Bệnh viện Ba Dã Chiến Hoa kỳ,Trương quốc Dung,trường Sinh ngữ Quân Đội,Ngã Ba Chú Ía..
 Chiều tối về ứng trực các tổng cục như Tiếp Vận,các trung tâm quan trọng trong doanh trại.
 Ngay đêm đầu tiên,nằm ở sân cờ đại đội Một gần cổng số Hai, độ chín giờ tối là bắt đầu nghe thấy trái hỏa tiễn 122 ly của Việt cộng gởi đến ..dằn mặt cho kẻ ở nơi khác đến rồi !
  Đêm thứ nhì,vị trí nằm ứng chiến của tôi không thay đổi ,vào cỡ 10 giờ tôi nghe một tiếng “rạc” thật lớn bay ngang qua nơi tôi nằm.Tiếng rách tựa như một khối lớn bằng sành bị vật gì đó lớn lắm đập mạnh.Theo kinh nghiệm của những chiến binh đã bị pháo kích bằng 122 ly thì khi mình nghe được tiếng đó thì đạn sẽ nổ cách mình không xa (tức là nghe được âm thanh đó là chưa chết !).
 Bây giờ im lặng bảo trùm,tôi cố lắng nghe tiếng “đề pa “ tôi nghe rồi đoán được tiếng đạn thù đó xuất phát từ hướng Thủ Thiêm.Hoả tiễn thứ nhì của đêm nổ ngay trên tháp chứa nước,gần cổng số hai.Tiếng chạm đầu đạn và bồn chứa nước làm cho tiếng vỡ sáng rực lên trong bóng đêm.Tháp nước không suy suyễn,nhưng từ cú va chạm với tiếng nổ lớn,ấm và ánh sáng loé rực thấy rõ ràng cảnh vật chung quanh trong cái ánh sáng chập chờn của khu vực  .
  Sau đó,những hỏa tiễn khác rơi cũng trong diện địa bộ TTM ,song hướng cổng số Bốn gần Võ duy Nguy nối dài.
  Từ hai cho đến ngày Đình Độc Lập và phi trường Tân sơn Nhứt bị phản tặc Nguyễn thành Trung bỏ bom (24/04/1975 ?),thông thường phi trường TSN bị pháo hai thì bộ TTM  bị một.Gần như cố định,còn hướng xuất phát có thể đoán từ ba phía :
 1.Hướng Hạnh thông Tây.
2.Hướng cầu Bình Lợi,Cầu Băng Kỳ.
3.Hướng Thủ Thiêm hoặc xéo của hướng Cần Giờ.
  Từ ngày 28 /04 pháo thủ Việt Cộng không còn bên trọng bên khinh nữa mà hai bên chia đều nhau sụp đổ,cháy tan nát,chết chóc ,thương tật…
 ***
 Từ cổng chánh hay còn gọi là cổng Một của TTM là con đường trải nhựa,hai bên (nếu tôi nhớ không lầm)là hai hàng Me Tây có tuổi và khá cằn cỗi.Con đường đó,tính từ trạm kiểm soát đến Toà Nhà Chánh bên trái và bên phải là phi trường mà các loại phi cơ như Cessna,L.19 không cần phi đạo dài có thể cất và hạ cánh dễ dàng .
  Hỏa tiễn của cộng quân lọt vô phi trường với sân cờ rộng mênh mông này nhiều.
  Cũng từ ngày đó,nhiệm vụ của tôi cùng một số chiến hữu khác tăng cường để yểm trợ cho Quân Cảnh đại đội Một thi hành công vụ mà yếu điểm là cổng Một.
  Lúc đó tướng Hạnh đã ban lệnh nội bất xuất,còn từ ngoài vô sẽ được kiểm soát gắt gao.
 Hầu hết quân nhân cấp Uý trở xuống đều giữ đúng quân lệnh,tức nằm tại những nơi chỉ định trú ẩn.Tuy nhiên,có một số không ít sĩ quan cấp Tá muốn…rời trại không có giấy phép .
   Đây là lúc chúng tôi phải thi hành mệnh lênh một cách vừa tế nhị vừa khó khăn.
  Cường độ pháo càng lúc càng gia tăng.Thoại đầu , tôi tìm nơi gần những cây lớn với ý nghĩ…có cây cối che chắn đỡ lúc nào hay lúc đó!
 Không bao lâu sau,chợt nhớ hai lần bị dập mấy năm trước vẫn còn sống nhăn,giờ đây công việc dòi hỏi phải đứng  và đứng thẳng lưng  để làm việc,cho dù là yểm trợ cho người khác làm việc trong lúc dầu sôi,lửa bỏng này thì ,sao tự dưng sợ chết vậy ?
  Khoảng cách từ cột cờ toà nhà chánh ,nơi đại tướng Viên làm việc (ông đã dzọt trước cả tuần rồi!)cho tới cổng chánh càng lúc càng ngắn lại trong tầm pháo.Đá,sạn,nhựa đường có lúc văng đến gần nón sắt chúng tôi-những QC đứng yểm trợ cho QC cơ hữu làm việc.
@!@!@
  Ngày cuối của cuộc chiến nồi da xáo thịt Bắc quân vẫn pháo đều và  hầu như đầu hỏa tiễn rơi rớt lung tung.Có thể nhóm pháo thủ khác chăng ?
 Gần mười một giờ sáng,trước khi ông Minh tuyên bố đầu hàng,có một trái đạn…thù hết sức vô lễ nhào xuống cách chúng tôi không xa cho lắm.
  Tôi sẽ rất thật thà nói rằng,chết thì có lúc phải sợ rồi nhưng người ở nơi bị pháo bị căng thẳng,căng thẳng tới cao độ là khoảng thời gian,khoảng cách  kế tiếp sau trái nổ trước.
 Biết rằng nó sẽ đến và đã trúng mục tiêu đằng kia rồi,chừng nào,bảo lâu nữa sẽ ..kế bên mình hay là mình.
  Chẳng thà mặt đối mặt với đối phương đi,người lính cũng ít nhiều quan sát, nghe ngóng xem động tịnh phía bên kia như thế nào.Còn chỉ thụ động chờ tiếng nổ vô tri nó từ bốn phương tám hướng đến cướp mạng mình ( mà mình không làm được bất cứ việc gì để  đè kháng) thì quả thật ,đó là một cuộc chơi không công bằng,rất dễ nổi điên !
  Chính sự trông chờ tử thần tới,nó làm cho người trong cuộc bị khủng bố ấy mới cảm thấy thời gian dài,dài hơn bình thường đến đáng sợ.Cho dù đồng hồ vẫn chạy sáu chục phút một giờ!
 Đó là câu hỏi không trả lời được của những chiến binh phải chịu ở dưới tầm đạn chờ tới phiên mình bị thương ,bị chết hay ở phía bên kia,giặc thù bị phi cơ hay pháo binh của phe ta phản pháo.
Phạm huỳnh Ngân & H3.


  






TỪ MẪU DẶN DÒ .

  TỪ MẪU DẶN DÒ.              *+*  Xin được thanh minh trước ,về cách xưng tôi trong tạp ghi này .Tôi ở đây ,xin thưa không phải là các...